Để Việt Nam tăng năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia


BNEWSTrong xu thế hội nhập và cuộc cách mạng 4.0, việc nâng cấp kỹ năng cho người lao động về cả số lượng, chất lượng là điều kiện quyết định để Việt Nam tăng năng suất lao động, năng lực cạnh tranh.

Trong xu thế hội nhập quốc tế cũng như tác động của cuộc cách mạng 4.0, yêu cầu về kỹ năng lao động là rất quan trọng với mỗi quốc gia; nâng cấp kỹ năng lao động sẽ làm gia tăng chất lượng, hiệu quả lao động, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội.

Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, các hoạt động có kiến ​​thức, kỹ năng để làm các công việc phức tạp, có khả năng ứng dụng nhanh với sự thay đổi của công nghệ, vận dụng sáng tạo các kiến ​​thức, kỹ năng đã được Đào tạo thành quá trình sản xuất lao động còn ít. Điều này hỏi các cơ quan quản lý Nhà nước cần có đồng giải pháp để nâng cao kỹ năng cho lao động Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
* Ngành, nghề đào tạo từng bước phù hợp với trường lao động yêu cầu
Theo báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hoạt động kinh tế toàn cầu đang giảm sức mạnh. Dưới cộng hưởng tác động của COVID-19 đại dịch và cách mạng công nghiệp 4.0, cuộc suy thoái kinh tế tế thời gian và sẽ tạo ra những đoạn gián đoạn thay đổi thế giới làm việc, thị trường lao động. Công việc đào tạo lại và đào tạo nâng cao kỹ năng cho hàng triệu công nhân ảnh hưởng bởi đại dịch và tự động hóa của cả lĩnh vực công – tư là hết sức cần thiết.

Diễn đàn Kinh tế thế giới kêu gọi các phủ Chính ưu tiên nguồn lực và hành động quyết định để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp trong kế hoạch khôi phục quốc gia sau đại dịch COVID-19; phấn đấu cung cấp cho 1 tỷ người có trình độ giáo dục, kỹ năng và làm việc tốt hơn vào năm 2030.
Sự phát triển của toàn bộ giá trị chuỗi ký kết thúc hội nhập quốc tế chiều sâu của thị trường lao động, chuyển lao động giữa các nước, hỏi người lao động không có kỹ năng cao, nhưng phải có kỹ thuật phần mềm, có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế với các tiêu chuẩn, tiêu chí do thị trường lao động xác định.

Trong tiền bối đó, Việt Nam phải tuân thủ các quy tắc chung “luật chơi”, bao gồm các tiêu chuẩn về lao động, tiêu chuẩn về quản lý thị trường lao động hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế. Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra những vấn đề mới. Nhiều công việc, cũ kỹ năng sẽ mất đi hoặc giảm mạnh, xuất hiện nhiều công việc mới, mới kỹ năng; trí tuệ nhân tạo, robot, máy tính sẽ đóng vai trò ngày một sản xuất lớn và thay thế nhiều vị trí làm việc hiện tại.
Time qua, Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có những chủ trương, chính sách, chủ đề công cụ có thể về đào tạo, nâng cao tay nghề cho công nhân lao động, cũng như hỗ trợ phát triển trường lao động. Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực; tăng cường đào tạo chuyên môn, kỹ năng, kỷ luật, văn hóa, nâng cao nhận thức cho năng lượng lao động phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và yêu cầu thu hút, sử dụng nước ngoài đầu tư; phối hợp với các tập đoàn, nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước để đào tạo theo “đơn đặt hàng”
Hiện nay, cả nước có trên 1.900 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 429 trường cao đẳng, trung cấp (371 trường công nghệ, 58 trường công cộng) được lựa chọn để tạo ra các ngành, điểm trọng yếu 144 ngành, điểm quan trọng ở các cấp độ (trong đó 68 ngành, nghề cấp độ quốc tế, 101 ngành, nghề cấp độ khu vực ASEAN, 144 ngành, nghề cấp độ quốc gia); sắp xếp 247 trường cao đẳng, trung cấp, hình thành hệ thống trường cao đẳng chất lượng cao tại 4 vùng kinh tế trọng điểm, được lựa chọn để tạo ra các ngành, điểm quan trọng (chiếm 57%) có ứng dụng cung cấp nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường lao động.
Giai đoạn 2011-2022, số lượng tuyển sinh trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp đạt 19,67 triệu người, trong đó, tuyển sinh trình độ cao đẳng đạt 1,945 triệu người (chiếm 9,8%), trình độ trung bình đạt 2 , 3 triệu người (chiếm 11,86%). Quy mô đào tạo tăng phần góp phần nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bản, chứng chỉ của cả nước đến quý II / 2022 đạt 26,2%. Ngành, nghề đào tạo được mở dần dần, từng bước phù hợp với thực tế của doanh nghiệp và thị trường lao động ở từng địa phương, từng lĩnh vực.
Chất lượng, hiệu quả giáo dục nghề nghiệp từng bước được nâng lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn như yêu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và thị trường lao động. Kỹ năng của người học được tăng cường, khoảng 80% người tốt nghiệp có công việc phù hợp với ngành nghề và trình độ đào tạo hoặc tự tạo công việc, tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế.

Ở một số nghề (Hàn, Cơ – điện tử, Viễn thông, Logistic, Du lịch, Dầu khí…), kỹ năng của lao động Việt Nam đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và có Could not get many complex location that before this must do chuyên gia nước ngoài thực hiện.

Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới – WEF (2019), chất lượng đào tạo nghề của Việt Nam đã tăng 13 bậc trong trụ cột kỹ năng. Trong các cuộc thi tay nghề khu vực và thế giới, đoàn Việt Nam đã đạt được thứ hạng cao, chất lượng đào tạo bước đầu được định hướng ở tầm khu vực và thế giới.
Việc tổ chức đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các lĩnh vực, lĩnh vực quan trọng, lĩnh vực mới cơ bản đáp ứng nhu cầu. Năng lực đào tạo nhân lực trực tiếp cho các vùng kinh tế trọng điểm cơ bản đáp ứng nhu cầu nhân lực của các ngành kinh tế. Phối hợp giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng và đào tạo lại cho người lao động của doanh nghiệp được cập nhật, bổ sung phù hợp.

The end up the connection – request about the market lao động, nhiều hoạt động liên kết giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp được chú trọng triển khai mạnh mẽ, đồng bộ, doanh nghiệp đã tham gia sâu vào hoạt động giáo dục nghề nghiệp, thị trường lao động, công việc vững chắc có nhiều chuyển đổi tích cực …
* Hướng đến tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thị trường lao động Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế. Chất lượng, nhân lực cơ cấu nguồn không đáp ứng được yêu cầu trường lao động. Trình độ, kỹ năng của lực lượng lao động dù được cải thiện trong thời gian qua, bài hát vẫn còn thấp so với yêu cầu của thị trường lao động và so với các nước trên thế giới, tiếp tục là điểm nghẽn để phát triển làm chất lượng và năng lượng lao động.

Theo số liệu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Việt Nam là nước có tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp (quý II / 2022 mới chỉ đạt 26,2%). Giai đoạn từ 2015-2020, có 66,7% công nhân lao động có trình độ Trung học phổ thông; 80% công nhân lao động tại các doanh nghiệp được đào tạo nghề (chủ yếu là doanh nghiệp tự đào tạo), 43% công nhân lao động được đào tạo lại, 22,5% bậc thợ từ 4-7 (có tay nghề cao).

Chất lượng lao động Việt Nam có sự chênh lệch rất lớn giữa các vùng, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp / chứng chỉ cao nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng (36,96%), next to vùng Đông Nam Bộ (28,34%); thấp nhất là 2 vùng Tây Nguyên (16,51%) và vùng Đồng bằng sông Cửu Long (14,61).
Trong so sánh quốc tế, xếp hạng trụ cột và chỉ số chất lượng đào tạo nghề nghiệp của Việt Nam thuộc cuối nhóm của ASEAN21. Nhìn chung, trình độ tay nghề, kỹ năng của lực lượng lao động Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt là thiếu phần mềm kỹ năng.

Việt Nam hiện thiếu đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý giỏi, chuyên gia, quản lý doanh nghiệp giỏi, lao động lành mạnh cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế động lực, điểm trọng yếu. Đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ thiếu và yếu. This giới hạn chế trở thành sự đóng góp của nguồn nhân lực để tăng trưởng kinh tế nhanh và vững chắc.
Đại hội Đảng lần thứ XIII đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021-2030, định dạng mô hình phát triển nước theo hướng trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại (năm 2030) và là nước phát triển (năm 2045), trong đó một lần nữa được nhấn mạnh để phát triển nguồn nhân lực là một trong chiến lược.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và cách mạng công nghệ lần thứ tư đang diễn ra rất nhanh, tác động mạnh, chiều sâu, chiều rộng đến mọi quốc gia, ngày càng trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Kinh tế số sẽ làm thay đổi phương thức quản lý, tổ chức, vận hành thị trường lao động, mô hình làm việc, đào tạo nâng cao chất lượng lao động …
Việc nâng cấp kỹ năng cho người lao động về cả số lượng, chất lượng là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tăng cường năng lực, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia.

To make this thing, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề ra các giải pháp trong thời gian tới là: Rà soát, đánh giá, sắp xếp tổ chức, đầu tư nâng cao năng lực của hệ thống đào tạo, giáo dục nghề nghiệp, nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng, xây dựng đề xuất vùng liên kết mô hình, xây dựng vùng trung tâm đào tạo, trung tâm đào tạo quốc gia theo vùng kinh tế trọng điểm; tăng nhanh quy mô tuyển sinh đào tạo nghề để phục hồi trạng thái thiếu nhân lực có kỹ năng phục hồi kinh tế – xã hội …
Bộ cũng tổ chức thực hiện các giải pháp để phân luồng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chẳng hạn như: Khẩn trương triển khai các điều kiện đảm bảo kết quả phân luồng, liên kết trong hệ thống giáo dục quốc dân; rà soát, sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại, dễ tiếp cận, đa dạng về loại, tổ chức định hình, bổ sung lý tính về cơ cấu nghề, chế độ cơ cấu, miền cơ cấu và hiệu quả miền liên kết; đẩy mạnh chuyển đổi số trong nghề nghiệp giáo dục; đẩy mạnh mô hình đào tạo chất lượng cao; tiếp nhận, chuyển giao, nghiên cứu nhân rộng hiệu quả của chương trình đào tạo quốc tế tiên tiến; xây dựng các công cụ đào tạo chuẩn để sử dụng hệ thống nhất trong đào tạo, đánh giá, công nhận kỹ năng cho công nhân lao động; xây dựng ứng dụng chính sách, trả lương, tiền công theo kỹ năng, năng lực của người lao động; đẩy mạnh công cụ thống kê, dự báo nhu cầu sử dụng lao động, nhu cầu đào tạo nghề nghiệp của doanh nghiệp về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề, trình độ lao động trong các doanh nghiệp, doanh nghiệp FDI , đặc biệt các ngành nghề khoa học – kỹ thuật – công nghệ, ưu tiên cho công nghệ thông tin, công nghệ mới, công nghệ cao, các kỹ năng tương lai …
Về các nghề nghiệp giáo dục cơ bản cần tăng cường chuyển đổi số, đào tạo trực tuyến, bảo đảm người học có các kỹ năng chuyên môn, kỹ năng số, phần mềm kỹ thuật, kỹ năng khởi động và ngoại ngữ … thích ứng với yêu cầu của lao động thị trường. Về phía đơn vị sử dụng lao động, chú trọng đào tạo lại và đào tạo thường xuyên cho người lao động, để có lực lượng lao động kỹ năng nghề …
Thực hiện liệt kê các giải pháp căn bản hỗ trợ phát triển thị trường lao động, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ưu tiên đào tạo máy chủ một số mũi nhọn, có định thức hàm lượng cao, ứng dụng khoa học công nghệ …, các giới hạn trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp sẽ từng bước cải tiến, phát triển, nâng cấp, góp phần sớm thực hiện mục tiêu đến năm 2030, giáo dục nghề nghiệp Việt Nam tiếp cận ASEAN-4 độ, đến năm 2045 tiếp cận trình độ nước G20./.

San San

Leave a Reply

Your email address will not be published.